Trang chủ » Nên uống nước khoáng hay nước tinh khiết? Tổ chức Y Tế Thế Giới

Nên uống nước khoáng hay nước tinh khiết? Tổ chức Y Tế Thế Giới

Nước tinh khiết là gì?

Nước tinh khiết hay còn gọi là nước cất – Nước khử khoáng được định nghĩa là loại nước có hàm lượng khoáng chất thấp, thông thường được gọi bằng chỉ số TDS – Tổng hàm lượng chất rắn hòa tan trong nước. TDS được đo bằng đơn vị ppm(phần triệu) hoặc mg/l.

Đối với các loại nước máy thành phố, quy định TDS là 1.000 ppm, chỉ số khác nhau với các nguồn và loại nước khác nhau, với nước tinh khiết, chỉ số TDS đã được đưa về mức thấp, thông thường < 20ppm(20 mg/l).

Nước tinh khiết được sản xuất ra bởi các quá trình tinh lọc, trong đó phổ biến nhất là dùng phương pháp lọc thẩm thấu ngược R/O với màng lọc có khe hở đến 0.0001 micromet, loại bỏ gần như hoàn toàn các khoáng chất trong nước.

Màng RO là công nghệ được ứng dụng trong lĩnh vực xử lý nước cho sản xuất công nghiệp, cũng như nước cất, nước tinh khiết có độ dẫn điện rất thấp. Tại Việt Nam, màng lọc RO được sử dụng phổ biến để xử lý nước gia đình, >90% các loại máy lọc nước uống trên thị trường hiện nay dùng công nghệ RO  – Nước sau màng lọc RO có hàm lượng khoáng còn lại rất thấp, hay còn gọi là nước tinh khiết.

Nước khoáng là gì?

Nước khoáng là loại nước uống còn các thành phần khoáng chất trong nước, tùy vào nguồn nước, hàm lượng khoáng chất trong nước có thể khác nhau.

Trên thị trường hiện nay chúng ta cũng có thể dễ dàng tìm thấy 02 loại nước, đó là nước khoáng và nước tinh khiết đóng chai như trên, khác với nước tinh khiết, nước khoáng các chỉ tiêu TDS, độ cứng, ion canxi, magie cao hơn nhiều.

Nước khoáng đóng chai Evian
Nước khoáng đóng chai Evian

Ví dụ với nước khoáng Lavie, chỉ tiêu TDS> 150 -300ppm tùy nguồn nước, trong khi đó với các loại nước tinh khiết đóng chai, nước sau lọc máy RO thì TDS rất thấp, thậm chỉ <10ppm. Rất nhiều đơn vị bán máy lọc nước còn công bố, nước có TDS càng thấp thì nước sau lọc càng tốt? Điều này là không có cơ sở, trong khi quy định của BYT với chỉ tiêu này là 1000ppm. Như vậy, nước khoáng là loại nước uống ngoài các chỉ tiêu được quy định theo TC của BYT, thì đặc điểm chỉnh đó là nước còn khoáng chất, thể hiện qua chỉ tiêu TDS, độ cứng, canxi, magie,… có thể nhìn thấy ngay trên tem nhãn.

Nên uống nước khoáng hay nước tinh khiết?

Rất nhiều tranh cãi xung quanh nước tinh khiết và nước khoáng, tuy nhiên chúng ta có thể thấy rằng, nguồn nước nào đi nữa, trước tiên cần đáp ứng tiêu chí SẠCH, tức là nước cần đáp ứng tiêu chuẩn nước uống trực tiếp theo quy định, bao gồm các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh cần nằm trong giới hạn cho phép.

Yếu tố thứ 2 quyết định chất lượng, giá thành của nước uống đó chính là hàm lượng khoáng chất trong nước. Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra vai trò vô cùng quan trọng của khoáng chất trong nước uống với sức khỏe, sau đây chúng tôi xin gửi tới so sánh nước uống tinh khiết và nước khoáng từ công bố chính thức của tổ Chức Y Tế Thế Giới trên who.int, nội dung tóm lược như sau:

 

Ảnh hưởng sức khỏe khi sử dụng nước khử khoáng hay có lượng khoáng thấp(nước tinh khiết, nước sau máy RO): Các kiến thức liên quan đến tác hại sức khỏe khi sử dụng nước khử khoáng được tổng hợp từ các
số liệu thực nghiệm và hiện tượng quan sát. Các thí nghiệm được thực hiện trên động vật và các tình nguyện viên, số liệu quan sát được thu thập từ dân cư sử dụng nước khử khoáng, người sử dụng nước lọc RO. Do các thông tin này còn giới hạn nên chúng ta đánh giá cả các nghiên cứu dịch tễ học so sánh dân cư sử dụng nước khoáng thấp và sử dụng nước có hàm lượng khoáng cao. Nước khử khoáng chưa được bù khoáng là trường hợp điển hình của nước ít khoáng có độ cứng rất thấp.
Nguy cơ ảnh hưởng của việc sử dụng nước có hàm lượng khoáng thấp được phân chia thành các nhóm như sau:
1. Ảnh hưởng trực tiếp đến màng ruột, trao đổi chất và các chức năng khác trong cơ thể:
Việc sử dụng nước có hàm lượng khoáng thấp có thể sẽ gây ra các quá trình thay đổi như mô tả, có thể không có biểu hiện hoặc sinh ra triệu chứng trong một số năm. Tuy nhiên, tác động cấp tính như hạ huyết áp hay bất tỉnh có thể gặp phải khi hoạt động thể chất mạnh hay uống một lượng lớn nước có lượng khoáng thấp. Hiện tượng shock nước có thể xảy ra khi uống nhanh một lượng nước ít khoáng thậm chí là nước vòi bình thường. Nguy cơ này gia tăng khi giảm lượng khoáng hòa tan (TDS). Trong quá khứ, các trường hợp cấp tính đã từng bắt gặp ở các vận động viên leo núi do họ sử dụng nước từ đá tan chảy mà không có sự bổ sung khoáng. Trường hợp nghiêm trọng hơn là phù não, co giật và nhiễm axit ở trẻ sơ sinh khi đồ uống được pha từ nước đóng chai ít khoáng

2. Việc cung cấp ít hay không cung cấp canxi và magie từ nước có hàm lượng khoáng thấp:
Canxi và magie là hai nguyên tố cần thiết. Canxi là thành phần tạo nên xương và răng. Ngoài ra, nó đóng vai trò quan trọng trong kích thích cơ, chức năng của cơ tim, sự co bóp của tim, truyền thông tin nội bào vào giúp máu có thể đông. Magie đóng vai trò quan trọng là đồng tác nhân cũng như chất kích hoạt của hơn 300 phản ứng enzyme gồm thủy phân đường, chuyển hóa ATP, vận chuyển các nguyên tố Na, K, Ca qua màng tế bào, tổng hợp protein các axit nucleic, kích thích thần kinh cơ và co cơ. Mặc dù nước uống không phải là nguồn cung cấp canxi và magie chính, nhưng vai trò đối với sức khỏe của các ion này trong nước là rất lớn nếu so sánh về tỉ lệ chất cung cấp hang ngày. thậm chí đối với các nước phát triển, chế độ ăn đầy đủ cũng không thể bù đắp lại lượng canxi và đặc biệt là magie từ nước uống.
3. Cung cấp ít các nguyên tố vi lượng và nguyên tố quan trọng

4. Mất canxi, magie và các dinh dưỡng khi chuẩn bị đồ ăn

5. Nguy cơ tăng các kim loại nặng theo đường ăn uống

Báo cáo của WHO 1980
Do tác hại của nước tách muối hoàn toàn cung như nước có hàm lượng khoáng thấp trong khoảng 50 – 75mg/L, nhóm soạn thảo đã đề xuất giá trị TDS tối thiểu là 100 mg/L, nhóm cũng đề xuất TDS trong nước uống 200 – 400 mg/L với nước có clorua và sunfat, 250 – 500 với nước bicarbonate. Ngoài giá trị TDS, báo cáo còn khuyến cáo lượng canxi tối thiểu là 30 mg/L. Giá trị này dựa trên cơ sở những tác động quan trọng với sự thay đổi hocmon trong trao đổi canxi và phosphor, bão hòa khoáng trong xương. mặt khác hàm lượng canxi 30 mg/L cũng giảm khả năng ăn mòn của nước . Lượng bicarbonate cũng được đề xuất là 30 mg/L để có cảm quan tốt, chống ăn mòn, tương đồng với lượng canxi đề xuất.

2. Các khuyến cáo gần đây
Dựa trên các số liệu gần đây, các nhà nghiên cứu đề xuất giá trị như sau:
 Đối với Magie, tối thiểu là 10 mg/L(33,56), tối ưu là 20 – 30 mg/L(49,57)
 Đối với canxi, tối thiểu là 20 mg/L(56), tối ưu là 50 (40 – 80) mg/L(57,58)
 Đối với tổng độ cứng, tổng canxi và magie trong khoảng 2 – 4 mmol/L
Với các mức nồng độ này, không có dấu hiệu ảnh hưởng đến sức khỏe được ghi nhận. Giá trị hàm lượng magie được đề xuất trên cơ sở ảnh hưởng đến tim mạch. Giá trị canxi được đề xuất trên cơ sở trao đổi canxi và quá trình vôi hóa. Giá trị giới hạn độ cứng được đề xuất từ các dấu hiệu sỏi thận và xương đối với nhóm người được sử dụng nước có độ cứng lớn hơn 5 mmol/L

Nguồn: Tổ Chức Y Tế Thế Giới (Trích từ bài viết “Rủi ro sức khỏe khi uống nước khử khoáng chất”Thông tin đăng tải trên who.int)

Xem thêm: Máy lọc nước ion canxi Geyser thế hệ mới nhất

0989.573.777